Tìm kiếm
Một số điểm mới về Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
 7/3/2018 5:38:04 PM

Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước (TNBTCNN) năm 2017 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2018, thay thế cho Luật TNBTCNN năm 2009.

Luật TNBTCNN gồm 9 Chương, 78 Điều, đây là văn bản quy phạm pháp luật cao nhất quy định, điều chỉnh về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, phù hợp với Hiến pháp năm 2013, đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành; thiết lập cơ chế pháp lý minh bạch, khả thi để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại và quyền, lợi ích của Nhà nước; từng bước nâng cao trách nhiệm của người thi hành công vụ, hiệu lực, hiệu quả nền công vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hội nhập quốc tế.
 
So với luật TNBTCNN năm 2009, luật TNBTCNN năm 2017 có rất nhiều điểm mới và tiến bộ cụ thể như sau:
 
Thứ nhất: Về đối tượng có quyền yêu cầu bồi thường.
 
     So với Điều 2 và Điều 4 Luật TNBTCNN năm 2009, Điều 5 Luật TNBTCNN năm 2017 về quyền yêu cầu bồi thường đã quy định cụ thể và rõ ràng hơn về những đối tượng có quyền yêu cầu bồi thường và quy định rõ hơn từng nhóm đối tượng có quyền yêu cầu bồi thường.
 
     Luật TNBTCNN 2017 chia thành 02 nhóm đối tượng có quyền yêu cầu bồi thường gồm:
 
    Nhóm 1: Những người đương nhiên có quyền yêu cầu bồi thường: người bị thiệt hại; người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại; người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại.
 
     Nhóm 2: Những người có quyền yêu cầu bồi thường theo ủy quyền của những người đương nhiên có quyền yêu cầu bồi thường.
 
Thứ hai: Về thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại
 
     Nếu Luật TNBTCNN 2009 quy định tại Điều 5 thời hiệu yêu cầu bồi thường là 02 năm thì Luật  TNBTCNN 2017  tại Điều 6 đã tăng tời hiệu yêu cầu bồi thường lên 3 năm .Trong đó quyền yêu cầu khôi phục danh dự thì không có thời hạn, mà bất cứ khi nào người bị thiệt hại yêu cầu đều phải tiến hành. Luật TNBTCNN 2017 quy định rõ những thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường là: khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của BLDS làm cho người có quyền yêu cầu bồi thường không thể thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường;  Khoảng thời gian mà người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc người đại diện đã chết hoặc không thể tiếp tục là người đại diện cho tới khi có người đại diện mới.
 
Thứ ba: Về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
 
     So với Điều 6 Luật TNBTCNN năm 2009, Điều 7 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo hướng quy định liệt kê từng căn cứ, cụ thể:
 
     a) Có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng. Căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng bao gồm:
 
Có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN và có yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự giải quyết yêu cầu bồi thường;
 
Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính đã xác định có hành vi trái pháp luật của người bị kiện là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và có yêu cầu bồi thường trước hoặc tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại.
 
Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự đã xác định có hành vi trái pháp luật của bị cáo là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự và có yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
 
      b) Có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật TNBTCNN.
 
      c) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại.
 
Thứ tư: Về quy định tạm ứng kinh phí bồi thường
 
      Điều 44 Luật TNBTCNN 2017 quy định rõ các thiệt hại mà người yêu cầu bồi thường có quyền đề nghị tạm ứng, trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường, cơ quan tài chính có thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện việc tạm ứng và mức tạm ứng (tối thiểu 50% giá trị các thiệt hại).
 
Thứ năm: Về cơ quan giải quyết bồi thường.
 
      Luật TNBTCNN quy định thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong cả 3 lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án.
 
     Ngoài ra, Luật năm 2017 còn bổ sung cơ quan giải quyết bồi thường là Tòa án trong trường hợp kết hợp giải quyết bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính đối với yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự. Riêng đối với quy định về cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp Viện Kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung (trường hợp Viện Kiểm sát chưa ra cáo trạng để truy tố) mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án thì Điều 34 và Điều 35 đã có quy định để phân rõ trường hợp nào thì thuộc trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trường hợp nào thì thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát.
 
     Cơ quan thống nhất quản lý nhà nước về trách nhiệm bồi thường là Chính phủ và Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ.
 
Thứ sáu: Thời gian giải quyết bồi thường
 
     Trong Luật TNBTCNN  2017 đã quy định rõ thời gian cụ thể, từ xác minh, thụ lý. Từ 95 ngày - 125 ngày trước đây theo Luật TNBTCNN xuống còn từ 41 - 71 ngày. Trường hợp thương lượng thành công sẽ trao quyết định giải quyết bồi thường ngay. Nếu không thành cũng phải gửi biên bản thương lượng để người bị thiệt hại lấy biên bản này có thể khởi kiện ra tòa giải quyết.
 
Thứ bảy: Về trách nhiệm hoàn trả
 
     Nếu như Luật năm 2009 quy định trong tố tụng hình sự, nếu người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây thiệt hại sẽ không phải chịu trách nhiệm hoàn trả thì Luật năm 2017 quy định người thi hành công vụ nếu có lỗi gây thiệt hại thì phải có nghĩa vụ hoàn trả. Luật năm 2017 còn tăng mức hoàn trả với tỷ lệ tương ứng mức độ lỗi và số tiền mà Nhà nước đã bồi thường, theo đó: Người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì mức hoàn trả từ 30 đến 50 tháng lương của người đó; người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây thiệt hại thì mức hoàn trả từ 03 đến 05 tháng lương của người đó.
 
     Cùng có hiệu lực với Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là Nghị định số 68/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Thông tư số 04/2018/TT-BTP của Bộ Tư Pháp ngày 17/5/2018 ban hành một số biểu mẫu trong công tác bồi thường nhà nước.
 
     Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 ra đời là phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế cũng như sự phát triển của hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, cải cách hành chính trên đất nước ta./.
Thanh Đoàn
       
Các tin khác
  
Thống kê truy cập
Tổng lượt truy câp 2.332.126
Truy cập hiện tại 835 khách